Thế Giới Nữ Trang

Phần 7. SỰ HÌNH THÀNH ĐÁ NGỌC

Các đá ngọc là các khoáng vật và đá được hình thành trong các quá trình hoạt động địa chất diễn ra trong suốt lịch sự phát triển của Trái Đất.
Tùy theo nguồn gốc năng lượng tạo ra khoảng vật và đá người ta chia ra các quá trình tạo khoảng nội sinh xảy ra do tác dụng của nhiệt bên trong của Trái Đất và các quá trình tạo ra khoáng ngoại sinh xảy ra do tác dụng của năng lượng Mặt Trời ở bên ngoài Trái Đất. Quá trình tạo ra khoáng nội sinh bao gồm các quá trình magma và quá trình biến chất.
7.1. các quá trình tạo ra khoáng magma:
Theo trình tự phát triển của chu kì hoạt động magma, người ta chia ra thành giai đoạn magma, giai đoạn pegmatit và giai đoạn khí hóa – nhiệt dịch.
a. Các quá trình magma.
Magma là những khối nóng chảy silicat có thành phần phức tạp, chứa cả những thành phần bốc hơi. Trong quá trình diễn biến địa kiến tạo của Trái Đất từ phần trên manti, magma đi lên xuyên qua các lớp của vỏ Trái Đất. Dưới ảnh hưởng áp suất và nhiệt độ bên ngoài nó nguội dần, bị phân dị và kết tinh hình thành các loại đá magma xâm nhập. Có trường hợp magma phun lên trên mặt đất thành các dung nham nguội nhanh hình thành các loại đá magma phun trào.
Tùy theo lượng SiO2 có trong thành phần của đá, người ta phân biệt ra các loại đá magma:
- Siêu mafic: Nghèo SiO2 (<45%), giàu MgO, FeO: Trong các đá magma siêu mafic có thể tìm thấy đá ngọc như Kim Cương , Peridot, Zircon, Granat,...
- Mafic: Với SiO2: 45-52% giàu Al2O3 và CaO.
Liên quan với các đá mafic có thể có các đá ngọc saphir, spinel,…
- Trung tính: Chứa SiO2 52-65%, nghèo CaO, giàu kiềm. Có thể phát hiện ở đây các loại đá ngọc zircon, topaz,..
- Acid: Giàu SiO2 (>65%), giàu kiềm và nghèo MgO, FeO, CaO. Các đá ngọc liên quan là thách anh, topaz, ruby, saphir,..
b. Các quá trình pegmatit
Các quá trình pegmatit xảy ra ở phần phía trên của khối magma là quá trình kết tinh magma tàn dư. Trong magma tàn dư này, các chất linh động khí hơi, axit và các nguyên tố hiếm tích lũy khá giàu làm tăng áp suất trong điều kiện nhiệt độ khối magma tàn dư giảm. Trong điều kiện này, các khoảng vật có kích thước lớn sẽ kết tinh. Đá tạo thành trong quá trình này gọi là pegmatit.
Các thể pegmatit có thể ở các đá xâm nhập đủ các thành phần từ siêu mafic đến acid, nhưng phổ biến và có giá trị là các pegmatit trong các đá acid và kiềm.
Các đá ngọc hình thành trong quá trình pegmatit phổ biến là beryl, emerald, aquamarin, zircon, thạch anh, topaz, tourmalin
c. Quá trình khí hóa – nhiệt dịch 
Các quá trình này diễn ra sau khi khối magma chính ở dưới sau về căn bản đã kết tinh xong.
Quá trình khí hóa: Hiện tượng khí hóa diễn ra trong điều kiện khối magma bão hòa các thành phần bay hơi, nhiệt độ tiếp túc giảm, áp suất tăng do hàm lượng các chất bốc hơi tăng cao. Các khoáng vật kết tinh trong môi trường dung dịch khí nên gọi là quá trình khí hóa. Các đá ngọc liển quan đến quá trình khí hóa là thạch anh, topaz, tourmalin, casiterit, sielit.
Quá trình nhiệt dịch: Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình hoạt động magma xâm nhập. Nhựng dung dịch thể hơi tàn ư chuyển động qua các khe đá phát triển trên mái của magma xâm nhập biến thành các dung dịch nước nóng hay nhiệt dịch. Thành phần khoáng vật trong các thể nhiệt dịch rất khác nhau. Trong nhiều trường hợp, các mạch thạch anh có chứa các sulfua kim loại. Các đá ngọc liên quan có amethyst, topaz, emerald, beril, thạch anh, calcit...
7.2 CÁC QUÁ TRÌNH TẠO KHOÁNG NGOẠI SINH:
Các quá trình tạo khoáng ngoại sinh diễn ra trên bề mặt trái đất nhờ tác dụng của năng lượng mặt trời.
a. Quá trình phong hóa 
Ở trên lục địa, do tác dụng của khí quyển(oxy của không khí, khí cacbonic, nước) và hoạt động của các vi sinh vật phát sinh ra các phản ứng vào đá được gọi là tác dụng phong hóa.
- Phong hóa cơ học : Là quá trình phá hủy khoáng vật và đá thành các mảnh vụn do tác dụng của sự biến đổi nhiệt độ của môi trường , do nước đóng băng và do tác dụng của sinh vật. trong đó có con người.
- Phong hóa hóa học: là quá trình phá hủy khoáng vật và đá bằng các phản ứng hóa học như oxy hóa , hydrat hóa ,hòa tan….
- Các quá trình phong hóa, đặc biệt là phong hóa cơ học, đã phân hủy các khoáng vật và đá mềm, dễ phân hủy, tách các đá ngọc thường có độ cứng cao ra khỏi khối đá gốc , giúp con người dễ phát hiện và khai thác có hiệu quả.
b.Quá trình trầm tích 
Trái đất luôn luôn vận động. Trong quá trình vận động, những đá tạo thành ở dưới sâu dần dần được lộ ra trên mặt đất. Nhũng thành phần nào không bền vững sẽ bị phá hủy, được mưa gió vận chuyển theo các dòng chảy dần dần bị phân dị,chọn lọc và lắng đọng ở các bồn trũng , lòng sông, hồ, đại dương, Quá trình này gọi là quá trình trầm tích và được diễn ra dưới tác động của các tác nhân cơ học , hóa học, sinh học… do vậy các thành tạo trầm tích được chia ra trầm tích cơ học, trầm tích hóa học , trầm tích sinh hóa…
Các đá ngọc liên quan đến quá trình này gọi là trầm tích có lazurit, azurite,opal….
7.3 TẠO KHOÁNG TRONG QUÁ TRÌNH BIẾN CHẤT
Các đá magma và trầm tích được hình thành từ trước có thể bị biến chất do tác dụng của hoạt động kiến tạo. Khi nhiệt độ áp suất thay đổi xảy ra ở quy mô lớn(khu vực)tạo ra hiện tượng biến chất trên diện rộng(gọi là biến chất khu vực)hoặc do tác dụng tiếp xúc với magma trẻ hình thành khoáng vật mới(gọi là biến chất tiếp xúc).
Có nhiều đá ngọc được tạo hành trong quá trình hoạt động biến chất của vỏ trái đất như emerald, ruby, saphir, granat….
7.4 CÁC KIỂU TỤ KHOÁNG ĐÁ NGỌC
Dựa vào cách thức hình thành đá ngọc để phân loại kiểu tích tụ: magma(hình thành từ nguồn magma), trầm tích(trong quá trình trầm tích) và biến chất(tái tạo từ các đá khác do bị biến chất).
Trên thực tế , người ta phân loại nguồn gốc các tích tụ đá ngọc thành tích tụ nguyên sinh(gốc)và tích tụ thứ sinh(sa khoáng).Tích tụ nguyên sinh là đá ngọc tồn tại ở nơi chúng hình thành cùng các đá vây quanh.Tích tụ thứ sinh là đá quý được tái lập trung trong quá trình phong hóa.
Trong tụ khoáng nguyên sinh, đá ngọc còn giữ nguyên trong mối quan hệ sinh thành với đá gốc vây quanh. Tuy nhiên, hàm lượng đá ngọc trong tụ khoáng nguyên sinh thường không lớn và phải xử lý phức tạp mới tách được đá ngọc ra khỏi đá gốc. Loại này ít được khai thác vì chi phí lớn, kém hiệu quả.
Thường trong tụ khoáng đá ngọc thứ sinh hàm lượng đá ngọc cao hơn nhiều so với trong đá gốc và dễ khai thác , tuyển tách.Có được như vậy là vì đá gốc chứa đá quý bị phong hóa, rửa lũa các khoáng vật mềm, dễ hòa tan, còn các khoáng vật đá ngọc thường cứng và bền vững, không bị phong hóa đã còn lại và được tái tích tụ ngay tại chỗ hoặc được nước, gió , bang vận chuyển đến nơi khác, tích tụ tại những nơi có điều kiện thuận lợi. Tụ khoáng thứ sinh có các kiểu fluvial(do sông), marin(do biển) hoặc (do gió).
Đôi khi do điều kiện địa hình, địa mạo, trong quá trình phong hóa đá, ngọc chưa được vận chuyển đến nơi khác mà tích tụ ngay trên mặt đá gốc chứa đá ngọc. Tích tụ kiểu này được gọi là tích tụ thứ sinh eluvial.
Hầu hết các mỏ đá ngọc được khai thác mang lại hiệu quả cao điều thuộc kiểu tích tụ thứ sinh.

-- Cty Cổ Phần Thế Giới Nữ Trang xin cám ơn quý khách đã quan tâm theo dõi ,kính mời quý khách đón xem phần tiếp theo.
Nguồn : Sưu tầm từ internet.
---------------------------------------------------------------------
Cty Cổ phần Thế Giới Nữ Trang - Nhẫn 12 con giáp đá quý phong thủy
Địa chỉ: 103 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5, Tp.HCM. 
Di động: ‎0906853979 - ‎0919667633 Hotline: ‎08 62611108.
Mail: vontrantan@yahoo.com.vn
Website   : thegioinutrang.vn
Facebook : Facebook.com/thegioinutrang.9

Đăng bởi: Thegioinutrang Thegioinutrang vào ngày:29/11/2018, Tags: